English | FAQ | Sơ đồ website
TỔNG CỤC THỐNG KÊ
Số 54 Nguyễn Chí Thanh, Đống Đa, Hà Nội
Tạp chí Con số và Sự kiện 
Tạp chí Con số và Sự kiện kỳ 1 tháng 2/2019 (539)

CON SỐ VÀ SỰ KIỆN

Tạp chí của Tổng cục Thống kê

ISNN 0866-7322. Kỳ 1 tháng 2/2019 (539)

Ra hàng tháng. Năm thứ 58

 

HOẠT ĐỘNG TRONG NGÀNH

 

Lễ công bố kết quả Điều tra Quốc gia về Người khuyết tật tại Việt Nam năm 2016

Bộ tiêu chí chất lượng thống kê – công cụ đánh giá, xếp hạng chất lượng thống kê của các cơ quan thống kê nhà nước

Bộ Kế hoạch và Đầu tư ban hành Thông tư Quy định về Hệ thống chỉ tiêu thống kê ASEAN

¨ ThS. NGUYỄN ĐÌNH KHUYẾN

Kết quả thực hiện hệ thống phổ biến số liệu chung năm 2018

KINH TẾ - XÃ HỘI

Doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ, thực trạng và giải pháp

¨ NGUYỄN HỮU CUNG

Công nghiệp ô tô Việt Nam – Tận dụng cơ hội để hội nhập và phát triển

¨ ThS. ĐẶNG THỊ HIỀN – ThS. NGUYỄN THỊ DIỆU HIỀN

Khách quốc tế tới Việt Nam – Hành trình tăng tốc

¨ TS. NGUYỄN CAO ĐỨC – TS. PHÍ HỒNG MINH

Gỡ khó về giáo dục hướng nghiệp và phân luồng học sinh

¨ BÍCH NGỌC

Điều tra khuyết tật 2016 – Một số phát hiện chính

Năm 2018: TP Hồ Chí Minh tiếp tục khẳng định là đầu tàu kinh tế cả nước

VUI VUI… THỐNG KÊ

KẾT QUẢ TỔNG ĐIỀU TRA KINH TẾ 2017

Hiệu quả và hiệu suất sử dụng lao động của doanh nghiệp FDI tại Việt Nam

CẢ NƯỚC CHUNG TAY XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI

Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2016-2018: Một số kết quả sơ bộ

Chiến tranh biên giới – những dấu mốc không thể lãng quên

¨ HOÀNG PHƯƠNG

NGHIÊN CỨU – TRAO ĐỔI

Nghiên cứu ứng dụng trực quan hóa dữ liệu trong phổ biến thông tin thống kê

¨ ThS. THÁI HÀ

Kinh nghiệm điều tra niềm tin người tiêu dùng của một số quốc gia trên thế giới

¨ ThS. HOÀNG THỊ THANH HÀ

Thực trạng công tác Thống kê hộ tịch tại Việt Nam

QUỐC TẾ

Toàn cầu với cuộc chiến chống biến đổi khí hậu

¨ TRÚC LINH

SÁCH HAY THỐNG KÊ

Sách hay thống kê: Kết quả hoạt động của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài giai đoạn 2011-2016

Năng lực cạnh tranh của Việt Nam so với các nước trong khu vực

HÀ GIANG – TIỀM NĂNG VÀ CƠ HỘI HỢP TÁC ĐẦU TƯ

Hà Giang hướng tới phát triển du lịch hiệu quả và bền vững

¨ THÀNH NAM

Vai trò của khoa học công nghệ trong phát triển kinh tế - xã hội ở Hà Giang

¨ MINH CHÂU

Trung tâm y tế huyện Xín Mần: Làm tốt nhiệm vụ bảo vệ và chăm sóc sức khỏe nhân dân

¨ MINH HÙNG

 

Nội dung tóm tắt một số bài trong số kỳ 1 tháng 2/2019.

 

BỘ TIÊU CHÍ CHẤT LƯỢNG THỐNG KÊ CÔNG CỤ ĐÁNH GIÁ,

XẾP HẠNG CHẤT LƯỢNG THỐNG KÊ CỦA CÁC CƠ QUAN THỐNG KÊ NHÀ NƯỚC

 

Ngày 05/01/2019, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 01/2019/QĐ-TTg về Bộ tiêu chí Chất lượng Thống kê đến năm 2030, có hiệu lực thi hành từ ngày 05/3/2019. Bộ tiêu chí là cơ sở để đánh giá chất lượng thống kê, thực hiện trách nhiệm giải trình với các bên liên quan về thực trạng chất lượng và hiệu quả hoạt động thống kê nhà nước, nhằm không ngừng nâng cao chất lượng thống kê, đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của các đối tượng sử dụng thông tin thống kê nhà nước.

1. Đối tượng áp dụng Bộ tiêu chí chất lượng thống kê

Bộ tiêu chí chất lượng thống kê áp dụng cho các cơ quan thống kê thuộc hệ thống tổ chức thống kê nhà nước theo quy định của Luật Thống kê và tổ chức, cá nhân liên quan đến hoạt động đánh giá chất lượng thống kê nhà nước. (…)

2. Lộ trình áp dụng Bộ tiêu chí chất lượng thống kê

- Từ năm 2020, hàng năm các cơ quan thống kê nhà nước tiến hành tự đánh giá chất lượng thống kê theo Bộ tiêu chí chất lượng thống kê; gửi Bộ Kế hoạch và Đầu tư (Tổng cục Thống kê) báo cáo tự đánh giá chất lượng thống kê thuộc phạm vi phụ trách.

- Từ năm 2021, tổ chức đánh giá độc lập chất lượng thống kê nhà nước định kỳ 5 năm một lần; báo cáo Thủ tướng Chính phủ kết quả đánh giá chất lượng thống kê nhà nước theo Bộ tiêu chí chất lượng thống kê;

- Từ năm 2024, xây dựng và vận hành hệ thống tự đánh giá chất lượng thống kê nhà nước trực tuyến áp dụng cho các cơ quan thống kê thuộc hệ thống tổ chức thống kê nhà nước.

3. Cấu trúc của Bộ tiêu chí chất lượng thống kê

Bộ tiêu chí chất lượng thống kê bao gồm 19 tiêu chí với 91 nội dung cụ thể phản ánh toàn diện 4 chiều chất lượng thống kê nhà nước đến năm 2030 (…).

4. Nội dung Bộ tiêu chí chất lượng thống kê

A. Quản lý hoạt động điều phối, phối hợp và các tiêu chuẩn thống kê

1. Quản lý hoạt động điều phối, phối hợp thực hiện các hoạt động thống kê (…)

2. Quản lý mối quan hệ với các bên liên quan (…)

3. Quản lý các tiêu chuẩn thống kê (…)

B. Quản lý môi trường thể chế cho các hoạt động thống kê

4. Bảo đảm tính độc lập về chuyên môn, nghiệp vụ thống kê (…)

5. Bảo đảm tính khách quan và tính công bằng (…)

6. Bảo đảm tính minh bạch (…)

7. Bảo đảm tính bảo mật và an ninh thông tin thống kê (…)

8. Bảo đảm cam kết chất lượng thống kê (…)

9. Bảo đảm đầy đủ các nguồn lực cho hoạt động thống kê (…)

C. Quản lý các quy trình thống kê

10. Bảo đảm tính đúng đắn của phương pháp luận thống kê (…)

11. Bảo đảm sự phù hợp giữa hiệu quả và chi phí (…)

12. Bảo đảm tính đúng đắn của việc thực hiện các chương trình thống kê (…)

13. Quản lý gánh nặng trả lời của cơ quan, tổ chức, cá nhân cung cấp thông tin (…)

D. Quản lý các kết quả đầu ra thống kê

14. Bảo đảm tính phù hợp (…)

15. Bảo đảm tính chính xác và độ tin cậy (…)

16. Bảo đảm tính kịp thời và tính đúng hạn (…)

17. Bảo đảm tính dễ tiếp cận, rõ ràng và dễ hiểu (…)

18. Bảo đảm tính chặt chẽ và tính so sánh (…)

19. Quản lý dữ liệu đặc tả thống kê (…)./.

 

BỘ KẾ HOẠCH VÀ ĐẦU TƯ BAN HÀNH THÔNG TƯ QUY ĐỊNH VỀ

HỆ THỐNG CHỈ TIÊU THỐNG KÊ ASEAN

ThS. Nguyễn Đình Khuyến

Theo Quyết định số 1161/QĐ-TTg ngày 23/7/2015 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án hội nhập thống kê ASEAN giai đoạn 2016-2020, Bộ Kế hoạch và Đầu tư (Tổng cục Thống kê) được giao là cơ quan đầu mối quốc gia về cung cấp số liệu cho Thống kê ASEAN; chủ trì thu thập, tổng hợp thông tin thống kê cung cấp cho ASEAN.

Thời gian qua, Thống kê Việt Nam đã có những bước tiến quan trọng trong quá trình hội nhập với thống kê Cộng đồng ASEAN, thể hiện trên các lĩnh vực: Tham gia tích cực vào quá trình hình thành hệ thống thống kê Cộng đồng ASEAN (viết gọn là Thống kê ASEAN); Thực hiện tích cực Chương trình hài hòa hóa số liệu giữa các quốc gia ASEAN về các lĩnh vực thống kê; Đáp ứng một phần số liệu cho Ban Thư ký ASEAN. Nhằm khẳng định vai trò của mình trước yêu cầu của hội nhập quốc tế trong lĩnh vực thống kê, Thống kê Việt Nam đang tiếp tục hoàn thiện thể chế, nâng cao năng lực nhằm đáp ứng đầy đủ thông tin phục vụ quản lý, điều hành, xây dựng chính sách của Cộng đồng ASEAN. Một trong những nhiệm vụ cần thực hiện là xây dựng, ban hành hệ thống chỉ tiêu thống kê ASEAN, đây là cơ sở pháp lý cho việc cung cấp số liệu theo yêu cầu của ASEAN. (…)

Danh mục và nội dung chỉ tiêu thống kê ASEAN của Việt Nam gồm 103 chỉ tiêu (trong đó có 51 chỉ tiêu thuộc hệ thống chỉ tiêu thống kê quốc gia) được chia thành 16 lĩnh vực, cụ thể như sau: Đất đai, dân số (9 chỉ tiêu); Lao động, việc làm và bình đẳng giới (10 chỉ tiêu); Doanh nghiệp, cơ sở kinh tế, đầu tư (5 chỉ tiêu); Tài khoản quốc gia (10 chỉ tiêu); Tài chính công (11 chỉ tiêu); Tiền tệ, chứng khoán (8 chỉ tiêu); Nông, lâm nghiệp và thủy sản (2 chỉ tiêu); Công nghiệp (3 chỉ tiêu); Thương mại, dịch vụ (6 chỉ tiêu); Giá cả (5 chỉ tiêu); Giao thông vận tải, du lịch (3 chỉ tiêu); Thông tin, truyền thông và khoa học công nghệ (4 chỉ tiêu); Giáo dục (5 chỉ tiêu); Y tế và chăm sóc sức khỏe (9 chỉ tiêu); Mức sống dân cư (10 chỉ tiêu); Bảo vệ môi trường (3 chỉ tiêu).

Để triển khai thực hiện Thông tư, một số công việc được yêu cầu thực hiện như:

- Tổng cục Thống kê chủ trì, phối hợp với các cơ quan có liên quan thực hiện các nhiệm vụ: (i) Xây dựng chế độ báo cáo thống kê; Xây dựng quy chế cung cấp và chia sẻ thông tin giữa Bộ Kế hoạch và Đầu tư (Tổng cục Thống kê) và các Bộ, ngành; Lồng ghép việc thu thập các chỉ tiêu thống kê thuộc hệ thống chỉ tiêu thống kê ASEAN thông qua chế độ báo cáo thống kê của các Bộ, ngành, các cuộc điều tra thống kê và sử dụng dữ liệu hành chính. (ii) Tổng hợp thông tin thống kê thuộc hệ thống chỉ tiêu thống kê ASEAN để trình Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư công bố; tổ chức phổ biến thông tin thống kê; theo dõi, hướng dẫn, báo cáo tình hình thực hiện Thông tư này. (iii) Xây dựng cơ sở dữ liệu thống kê về ASEAN; xây dựng các phần mềm thống kê để thu thập, xử lý và phổ biến thông tin thống kê về ASEAN.

- Các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tối cao và các cơ quan có liên quan trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình cần thực hiện lồng ghép, thu thập, tổng hợp những chỉ tiêu được phân công trong hệ thống chỉ tiêu thống kê ASEAN cung cấp cho Bộ Kế hoạch và Đầu tư (Tổng cục Thống kê) để tổng hợp, biên soạn và công bố./.

 

CÔNG NGHIỆP Ô TÔ VIỆT NAM

TẬN DỤNG CƠ HỘI ĐỂ HỘI NHẬP VÀ PHÁT TRIỂN

 

ThS. Đặng Thị Hiền - ThS. Nguyễn Thị Diệu Hiền

 

Xây dựng và phát triển ngành công nghiệp ô tô ở Việt Nam được xác định là một trong những mục tiêu lớn trong tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Trong xu thế nền kinh tế Việt Nam đang có đà tăng trưởng tốt, các chính sách của Chính phủ về phát triển ngành công nghiệp ô tô và cơ sở hạ tầng ngày càng được cải thiện; số lượng các loại phương tiện giao thông tiếp tục tăng cao, thị trường ô tô có nhiều tiềm năng phát triển... đã tạo động lực tốt để ngành công nghiệp ô tô khởi sắc trong giai đoạn hiện nay.

Từ những cơ hội và nỗ lực phát triển...

Mặc dù ra đời muộn hơn so với các quốc gia khác trong khu vực, song ngành công nghiệp ô tô ở Việt Nam hiện nay đang có nhiều cơ hội để phát triển. Theo nhận định của các chuyên gia, tiềm năng phát triển công nghiệp ô tô phụ thuộc vào 3 yếu tố: Quy mô và cơ cấu dân số, thu nhập bình quân đầu người và số lượng xe bình quân trên 1.000 dân. (…)

...cùng sự hậu thuẫn của cơ chế, chính sách

Các chuyên gia kinh tế cho rằng, ngành công nghiệp hỗ trợ và công nghiệp sản xuất ô tô trong nước chưa bao giờ được ưu đãi tốt như hiện nay. Các chính sách ưu đãi cho doanh nghiệp mới đầu tư và hỗ trợ doanh nghiệp đã sản xuất cũng khá cụ thể và thiết thực. Cụ thể như: Chiến lược phát triển ngành công nghiệp ô tô Việt Nam đến năm 2025, tầm nhìn đến năm 2035 và Quy hoạch phát triển ngành công nghiệp ôtô Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030 được phê duyệt với những định hướng mục tiêu cụ thể, tạo tiền đề tốt cho các doanh nghiệp sản xuất và lắp ráp ô tô phát triển. (…)

Và một số giải pháp phát triển

 Có thể thấy, với sự hậu thuẫn đáng kể từ các cơ chế, chính sách của Chính phủ như hiện nay, ngành công nghiệp ô tô Việt Nam đang có nhiều tiền đề để phát triển bứt phá, tuy nhiên về lâu dài theo các chuyên gia kinh tế, Ngành công nghiệp ô tô cần có chiến lược bài bản và dài hơi hơn. (…)

Bên cạnh đó, nhằm tận dụng các cơ hội để phát triển, công nghiệp ô tô đang tập trung vào một số giải pháp khác như: Tập trung hỗ trợ có mục tiêu, nâng cao năng lực sản xuất và khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp sản xuất, lắp ráp ôtô trong nước với một số các sản phẩm ô tô chủ lực, có dung lượng thị trường tốt và có khả năng cạnh tranh với các sản phẩm của các nước khác trong khu vực. (…)

Từ những cơ hội, sự nỗ lực trong hội nhập và phát triển, cùng một số giải pháp cơ bản mà ngành công nghiệp ô tô đang từng bước triển khai thực hiện ở trên, ngành công nghiệp ô tô Việt Nam đang kỳ vọng vào một tương lai phát triển và ngày càng lớn mạnh, khẳng định vị trí là một trong những ngành sản xuất trụ cột của nước ta trong thời gian tới./.

 

HIỆU QUẢ VÀ HIỆU SUẤT SỬ DỤNG LAO ĐỘNG CỦA DOANH NGHIỆP FDI TẠI VIỆT NAM

 

Thu nhập bình quân của người lao động

Thu nhập của người lao động trong doanh nghiệp FDI ngày càng được cải thiện và tăng lên qua các năm: Năm 2011 đạt 5 triệu đồng/lao động/tháng; năm 2016 đạt 8,5 triệu đồng/lao động/tháng, gấp 1,7 lần năm 2011; bình quân tăng 11,2%/năm giai đoạn 2011-2016.(…)

Doanh thu bình quân của người lao động

Doanh thu bình quân một lao động của doanh nghiệp FDI có xu hướng tăng dần qua các năm, năm 2011 đạt 816 triệu đồng/lao động và năm 2016 đạt 1223,4 triệu đồng/lao động, bình quân giai đoạn 2011-2016 tăng 8,4%/ năm.Theo hình thức đầu tư, năm 2016, doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài có mức doanh thu bình quân một lao động đạt 1120,8 triệu đồng, gấp 1,7 lần năm 2011, bình quân giai đoạn 2011-2016 tăng 11,1%/năm. (…)

Hiệu suất sử dụng lao động

Hiệu suất sử dụng lao động thể hiện mối tương quan giữa doanh thu bình quân một lao động với thu nhập bình quân một lao động. Năm 2011 hiệu suất sử dụng lao động của toàn bộ doanh nghiệp FDI đạt 14,1 lần thì đến năm 2016 chỉ đạt 11,8 lần và có xu hướng giảm dần qua các năm trong giai đoạn 2011-2016. (…)./.

 

KINH NGHIỆM ĐIỀU TRA NIỀM TIN NGƯỜI TIÊU DÙNG

CỦA MỘT SỐ QUỐC GIA TRÊN THẾ GIỚI

ThS. Hoàng Thị Thanh Hà

 

Chỉ số niềm tin người tiêu dùng (CSNTNTD) được nhiều quốc gia trên thế giới tính toán và công bố từ nhiều năm nay, phục vụ rất hữu ích cho công tác dự báo ngắn hạn tình hình kinh tế quốc gia. Ở tất cả các quốc gia, điều tra niềm tin người tiêu dùng (NTNTD) là nguồn thông tin duy nhất để tính toán CSNTNTD và đây là cuộc điều tra chọn mẫu. Do đó, để tính toán CSNTNTD đảm bảo độ tin cậy cao, cần nâng cao chất lượng điều tra NTNTD. Bài viết này sẽ trình bày kinh nghiệm điều tra NTNTD của ba quốc gia, gồm: Hoa Kỳ, In-đô-nê-xi-a, Pháp để từ đó rút ra các bài học kinh nghiệm nhằm đề xuất hoàn thiện cuộc điều tra này ở Việt Nam.

Điều tra niềm tin người tiêu dùng của Hoa Kỳ

Hiện nay, có ba tổ chức cùng điều tra NTNTD để tính toán CSNTNTD. Đó là Trường đại học Michigan, Ủy ban Hội thảo Hoa Kỳ và Tạp chí ABC/Tiền tệ. Tuy nhiên, điều tra NTNTD của Trường đại học Michigan, Ủy ban Hội thảo Hoa Kỳ là hai cuộc điều tra thường được đề cập nhiều nên bài viết chỉ tập trung trình bày kinh nghiệm điều tra của hai tổ chức này. (…)

Điều tra niềm tin người tiêu dùng của In-đô-nê-xi-a

Giới thiệu chung

 Điều tra NTNTD ở In-đô-nê-xi-a được Ngân hàng In-đô-nê-xi-a tiến hành hàng tháng từ tháng 10 năm 1999 nhằm xây dựng các chỉ tiêu dự báo sớm liên quan đến xu hướng chi tiêu của người tiêu dùng, kỳ vọng lạm phát và điều kiện tài chính hộ gia đình. Cuộc điều tra này khảo sát khoảng 4.600 hộ gia đình ở 18 thành phố lớn thuộc 18 tỉnh trên tổng số 33 tỉnh của In-đô-nê-xi-a. (…)

Điều tra niềm tin người tiêu dùng của Pháp

Giới thiệu chung

Pháp bắt đầu tiến hành điều tra NTNTD từ năm 1972 theo định kỳ 4 tháng một lần. (…) Viện Nghiên cứu kinh tế và Thống kê Pháp là cơ quan chịu trách nhiệm thực hiện cuộc điều tra này. (…)

Bài học rút ra từ kinh nghiệm quốc tế và khuyến nghị khả năng áp dụng điều tra niềm tin người tiêu dùng ở Việt Nam

Bài học rút ra từ kinh nghiệm quốc tế

Từ kinh nghiệm tiến hành điều tra NTNTD của các quốc gia nói trên trên thế giới, có thể rút ra một số bài học liên quan đến điều tra NTNTD như sau:

Mẫu điều tra

Do đối tượng điều tra là người trưởng thành trong hộ gia đình được chọn và đơn vị điều tra là hộ gia đình nên dàn mẫu cho cuộc điều tra này nên được lấy từ danh sách hộ gia đình của tổng điều tra dân số hoặc danh sách hộ gia đình trong đăng ký thống kê. Tổng thể điều tra là dân số trưởng thành. Việc xác định tuổi trưởng thành tùy thuộc vào quy định pháp luật về độ tuổi trưởng thành tại mỗi quốc gia. (…)

Bảng hỏi

 Nên áp dụng tất cả những câu hỏi từ Chương trình hài hòa hóa của châu Âu vì những câu hỏi này đã được nghiên cứu, chuẩn hóa nhiều lần dựa trên kinh nghiệm tiến hành điều tra NTNTD của các nước thuộc Chương trình hài hòa điều tra NTNTD. (…)

Phương pháp điều tra và thời điểm điều tra

Cần xác định phương pháp điều tra phù hợp với điều kiện thực tiễn của từng quốc gia để đảm bảo tỷ lệ trả lời cao. Thời điểm điều tra nên giống nhau ở tất cả các quốc gia.

Khuyến nghị khả năng áp dụng ở Việt Nam

Trên cơ sở kinh nghiệm quốc tế và xuất phát từ điều kiện thực tiễn ở Việt Nam, kiến nghị hoàn thiện điều tra NTNTD tại Việt Nam theo hướng sau:

Dàn mẫu điều tra

Dàn mẫu điều tra là danh sách các hộ gia đình được lấy từ Tổng điều tra dân số/điều tra dân số giữa kỳ.

 Phạm vi điều tra

 Điều tra chọn mẫu các hộ đại diện cho toàn quốc.

 Đối tượng điều tra

 Đối tượng điều tra là nhân khẩu thực tế thường trú từ 16 tuổi trở lên của hộ dân cư vì Điều 1 Luật Trẻ em nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2016 quy định “Trẻ em là người dưới 16 tuổi”.(…)

Cỡ mẫu

Cỡ mẫu cần được phân bổ để đại diện cho toàn quốc. Theo đó, phương pháp tổ chức chọn mẫu là kết hợp giữa chọn mẫu phân tổ nhiều cấp và chọn ngẫu nhiên (hệ thống, đơn giản) để vừa đảm bảo tính đại diện vừa tiết kiệm kinh phí điều tra.

Gia quyền mẫu điều tra

Sau khi thu thập thông tin từ điều tra thực địa, cần gia quyền mẫu điều tra theo đặc điểm nhân khẩu học hoặc kinh tế - xã hội để đảm bảo mức độ đại diện của mẫu.

Bảng hỏi

Bảng hỏi do Ủy ban châu Âu xây dựng là bảng hỏi đã được nghiên cứu, chuẩn hóa nhiều lần dựa trên kinh nghiệm tiến hành điều tra NTNTD của các nước thuộc Chương trình hài hòa hóa điều tra NTNTD. Cơ quan Thống kê Liên hợp quốc cũng khuyến nghị các nước nên áp dụng bảng hỏi này. (…)

Phương pháp và thời điểm điều tra

Áp dụng phương pháp phỏng vấn trực tiếp vì đây là phương pháp phỏng vấn phổ biến nhất ở Việt Nam ở thời điểm hiện tại. Hơn nữa, phỏng vấn trực tiếp cũng giúp đảm bảo tỷ lệ người trả lời cao. (…)

Như vậy, kinh nghiệm quốc tế cho thấy điều tra NTNTD là nguồn thông tin duy nhất để tính CSNTNTD. Do đó, chất lượng của cuộc điều tra này sẽ ảnh hưởng rất lớn đến độ chính xác của CSNTNTD. Để đảm bảo chất lượng điều tra, giảm thiểu tối đa sai số chọn mẫu và phi chọn mẫu, cần hoàn thiện điều tra NTNTD tại Việt Nam theo các khuyến nghị nêu trên./.

 

THỰC TRẠNG CÔNG TÁC THỐNG KÊ HỘ TỊCH TẠI VIỆT NAM

Công tác đăng ký và quản lý hộ tịch là nhiệm vụ quản lý nhà nước quan trọng của mỗi quốc gia bởi đây không chỉ là nguồn thông tin đầu vào cho các quyết định, chính sách phát triển kinh tế - xã hội, an ninh - quốc phòng của đất nước mà còn góp phần bảo đảm quyền con người, quyền cơ bản của công dân được quy định trong Hiến pháp.

Thời gian qua, công tác đăng ký và thống kê hộ tịch đã được Đảng, Nhà nước và Chính phủ quan tâm với nhiều chính sách, thể chế nhất quán và đang dần hoàn thiện qua từng thời kỳ. (…)

Hệ thống cơ quan đăng ký, thống kê hộ tịch tại Việt Nam

Hiện nay, theo quy định pháp luật hiện hành, công tác đăng ký, thống kê hộ tịch ở Việt Nam được giao cho nhiều cơ quan khác nhau, trong đó tập trung chủ yếu là Bộ Tư pháp, Bộ Y tế và Tổng cục Thống kê thuộc Bộ Kế hoạch và Đầu tư. (…)

Chương trình hành động quốc gia về đăng ký, thống kê hộ tịch giai đoạn 2017-2024

Ngày 31/01/2017, Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt Chương trình hành động quốc gia về đăng ký và thống kê hộ tịch của Việt Nam giai đoạn 2017-2024. Theo đó, về đăng ký khai sinh, đến năm 2020, ít nhất 75% dân số cư trú trên lãnh thổ Việt Nam được đăng ký và cấp Giấy khai sinh; tỷ lệ này đến năm 2024 là 85%. Về đăng ký khai tử và xác định nguyên nhân tử vong, đến năm 2020, ít nhất 80% các trường hợp tử vong xảy ra trên lãnh thổ Việt Nam trong năm được đăng ký khai tử và đến năm 2024 là 90%; Đến năm 2020, ít nhất 60% các trường hợp tử vong trên lãnh thổ Việt Nam trong năm được ngành y tế thống kê và có chứng nhận y tế về nguyên nhân gây tử vong, sử dụng mẫu chứng tử phù hợp chuẩn quốc tế và đến năm 2024 là 80%. (…)./.

 

NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA VIỆT NAM

SO VỚI CÁC NƯỚC TRONG KHU VỰC

Năng lực cạnh tranh của nền kinh tế thể hiện qua các chỉ số: Chỉ số năng lực cạnh tranh toàn cầu, Xếp hạng về môi trường kinh doanh, Chỉ số Nhà quản trị mua hàng, Hệ số tín nhiệm quốc gia.

Trong những năm qua, Chính phủ Việt Nam đã thực hiện nhiều giải pháp nhằm tăng cường năng lực cạnh tranh của quốc gia. Tuy nhiên so với các nước trong khu vực, năng lực cạnh tranh của Việt Nam còn có những khoảng cách nhất định.

Chỉ số năng lực cạnh tranh toàn cầu

Chỉ số năng lực cạnh tranh toàn cầu (GCI) do Diễn đàn Kinh tế thế giới (WEF) công bố hàng năm nhằm đánh giá và xếp hạng các nền kinh tế trên thế giới về khả năng cạnh tranh. Theo đánh giá của WEF, năm 2017 Việt Nam xếp hạng thứ 55 trên 137 nền kinh tế, tăng 5 bậc so với năm 2016 và là thứ hạng cao nhất của Việt Nam kể từ khi WEF công bố GCI. Với thứ hạng này, Việt Nam xếp trên một số nước ASEAN như Lào (98); Cam-pu-chia (94); Phi-li-pin (56) nhưng còn khoảng cách rất xa so với Xin-ga-po (3); Ma-lai-xi-a (23); Thái Lan (32); In-đô-nê-xi-a (36) và các nền kinh tế lớn của châu Á là Nhật Bản (9); Hàn Quốc (26); Trung Quốc (27); Ấn Độ (40). (…)

Xếp hạng về môi trường kinh doanh

Theo Báo cáo xếp hạng môi trường kinh doanh “Doing Business 2018”, một nghiên cứu theo dõi mức độ thuận lợi kinh doanh của doanh nghiệp vừa và nhỏ của Ngân hàng Thế giới8, Việt Nam tiếp tục được tăng hạng về môi trường kinh doanh khi xếp hạng thứ 68 trên 190 nền kinh tế, tăng 14 bậc so với đánh giá trong năm 2017, là mức tăng bậc nhiều nhất trong 10 năm qua của Việt Nam, trong đó có 8/10 chỉ số tăng điểm và 6/10 chỉ số tăng bậc. (…).

Chỉ số Nhà quản trị mua hàng

Trong những năm qua, hoạt động sản xuất của Việt Nam ngày càng gia tăng, đáp ứng yêu cầu tăng trưởng của nền kinh tế, thể hiện ở chỉ số Nhà quản trị mua hàng (PMI) hàng tháng hầu hết ở mức tích cực.(…)

Hệ số tín nhiệm quốc gia

Hệ số tín nhiệm quốc gia là chỉ số phản ánh khả năng và sự sẵn sàng hoàn trả đúng hạn tiền gốc và lãi trong danh mục nợ của một quốc gia. Đây là chỉ số cơ bản được các nhà đầu tư quốc tế sử dụng như là một yếu tố xác định mức độ rủi ro khi đầu tư vào một quốc gia. Do đó, kết quả xếp hạng tín nhiệm ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng huy động vốn của một quốc gia trên thị trường quốc tế. Nhận thức về mức độ quan trọng của hệ số tín nhiệm quốc gia, Việt Nam đã hợp tác với 3 tổ chức xếp hạng tín nhiệm có uy tín trên thế giới gồm Moody’s, Standard & Poor’s (S&P) và Fitch’s để định kỳ các tổ chức này đánh giá hệ số tín nhiệm quốc gia cho Việt Nam. (…)./.

 

HÀ GIANG HƯỚNG TỚI PHÁT TRIỂN DU LỊCH

Những năm qua, lĩnh vực du lịch của tỉnh Hà Giang đã có sự phát triển mạnh mẽ, nếu như năm 2012, lượng du khách đến Hà Giang chỉ đạt khoảng 100 nghìn lượt người thì sau 5 năm (năm 2017) đã gấp 10 lần với 1 triệu lượt khách. Năm 2018, khách du lịch đến Hà Giang ước đạt trên 1,136 triệu lượt, trong đó khách quốc tế là trên 273 nghìn lượt, khách nội địa trên 863 nghìn lượt, tổng thu từ khách du lịch đạt trên 1 nghìn tỷ đồng. Sản phẩm du lịch của Tỉnh cũng khá đa dạng, (…).

Có được những kết quả trên là do tỉnh Hà Giang đã nhìn nhận đúng thế mạnh về tiềm năng du lịch của Tỉnh để từ đó quy hoạch và phát triển du lịch theo hướng bài bản và bền vững. (…)

Để phát triển tiềm năng du lịch theo hướng bền vững, tỉnh Hà Giang luôn xác định phát triển du lịch phải dựa trên cơ sở gìn giữ bản sắc văn hóa dân tộc và giữ gìn địa mạo, sự hùng vĩ thiên nhiên. Hy vọng với nỗ lực và quan điểm nhất quán trong phát triển du lịch, thời gian tới ngành du lịch của Hà Giang thực sự trở thành ngành kinh tế mũi nhọn và là nền tảng quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Hà Giang./.

Thành Nam

 
CÁC THÔNG TIN KHÁC
  Tạp chí Con số và Sự kiện kỳ 1 tháng 5/2019 (545)
  Tạp chí Con số và Sự kiện kỳ 2 tháng 4/2019 (544)
  Tạp chí Con số và Sự kiện kỳ 1 tháng 4/2019 (543)
  Tạp chí Con số và Sự kiện kỳ II tháng 3/2019 (542)
  Tạp chí Con số và Sự kiện kỳ I tháng 3/2019 (541)