English | FAQ | Sơ đồ website
TỔNG CỤC THỐNG KÊ
Số 54 Nguyễn Chí Thanh, Đống Đa, Hà Nội
Tạp chí Con số và Sự kiện 
Tạp chí Con số và Sự kiện kỳ II tháng 2/2019 (540)

CON SỐ VÀ SỰ KIỆN

Tạp chí của Tổng cục Thống kê

ISNN 0866-7322. Kỳ II tháng 2/2019 (540)

Ra hàng tháng. Năm thứ 58

 

HOẠT ĐỘNG TRONG NGÀNH

 

Cục Thống kê tỉnh Kiên Giang: Tổ chức Hội nghị triển khai công tác Thống kê năm 2019

¨ MINH NGỌC

Bộ Kế hoạch và Đầu tư ban hành Thông tư về Bộ chỉ tiêu thống kê phát triển bền vững tại Việt Nam

¨ TRẦN TUẤN HƯNG

ĐÁNH GIÁ LẠI QUY MÔ TỔNG SẢN PHẨM TRONG NƯỚC

Sự cần thiết đánh giá lại quy mô tổng sản phẩm trong nước

KINH TẾ - XÃ HỘI

Tình hình kinh tế - xã hội cả nước tháng Một năm 2019

Chỉ số giá tiêu dùng, chỉ số giá và và chỉ số giá đô la Mỹ cả nước tháng Một năm 2019

Nâng cao hiệu quả quản lý, khai thác, sử dụng và phát huy các nguồn lực của nền kinh tế

¨ THÚY HIỀN

Hiệp định CPTPP chính thức có hiệu lực – Những lợi ích mang lại cho Việt Nam

¨ ThS. THÁI HUY ĐỨC

Fintech – Sức mạnh của kỷ nguyên số

¨ ThS. LÊ THỊ MINH TRÍ

Hiện thực hóa Cộng đồng kinh tế ASEAN – Khai thác cơ hội phát triển thương mại Việt Nam

¨ TS. PHẠM HỒNG TÚ

Năm 2019 – Nhiều kỳ vọng cho mặt hàng xuất khẩu chủ lực

¨ ThS. HÀ VŨ PHƯƠNG CẦM

Xây dựng chuỗi giá trị để phát triển ngành chăn nuôi bền vững

¨ TIẾN LONG

Thống kê giới – Một số kết quả cơ bản

¨ T.H

Cơ hội giáo dục và việc làm cho người khuyết tật

¨ ThS. NGUYỄN PHƯƠNG TÚ

Tin địa phương

KẾT QUẢ TỔNG ĐIỀU TRA KINH TẾ 2017

Hoạt động doanh nghiệp qua kết quả TĐT Kinh tế 2017

¨ THU HÒA

CẢ NƯỚC CHUNG TAY XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI

Cả nước huy động mọi nguồn lực xây dựng nông thôn mới

¨ BÍCH NGỌC

Chương trình Mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới tỉnh Bắc Kạn – Thổi luồng sinh khí mới đến những vùng quê

¨ MINH ĐẠT

NGHIÊN CỨU – TRAO ĐỔI

Một số nội dung về xây dựng, lựa chọn các chỉ tiêu phát triển bền vững liên quan đến trẻ em ở Việt Nam

¨ ThS. NGUYỄN ĐÌNH KHUYẾN

QUỐC TẾ

Trí tuệ nhân tạo – Những quốc gia hàng đầu và xu hướng nổi bật trên thế giới

¨ TRÚC LINH

SÁCH HAY THỐNG KÊ

Kinh tế Thái Bình giai đoạn 2016-2018 – Tăng trưởng khá

VUI VUI… THỐNG KÊ

 

Nội dung tóm tắt một số bài trong số kỳ II tháng 2/2019.

 

SỰ CẦN THIẾT ĐÁNH GIÁ LẠI QUY MÔ

TỔNG SẢN PHẨM TRONG NƯỚC

 

Tổng sản phẩm trong nước (GDP) là chỉ tiêu kinh tế vĩ mô quan trọng trong hệ thống tài khoản quốc gia. Chỉ tiêu này không chỉ phản ánh quy mô, tiềm lực của nền kinh tế mà còn là cơ sở để tính toán nhiều chỉ tiêu kinh tế - xã hội quan trọng như: Cơ cấu kinh tế, năng suất lao động xã hội, tỷ lệ bội chi ngân sách, nợ công của Chính phủ và các chỉ tiêu có liên quan khác.

Sự cần thiết đánh giá lại quy mô Tổng sản phẩm trong nước

Biên soạn GDP là một trong những kỹ thuật chuyên sâu của nghiệp vụ thống kê tài khoản quốc gia. Theo yêu cầu sử dụng thông tin, số liệu GDP gồm số liệu ước tính, số sơ bộ và số chính thức. Số liệu GDP ước tính và sơ bộ nhằm đáp ứng kịp thời công tác quản lý, điều hành của các cơ quan nhà nước và thường được xem xét dưới hình thức biểu hiện của tốc độ tăng trưởng kinh tế. Số liệu GDP chính thức mô tả toàn bộ bức tranh của nền kinh tế cả về quy mô và tốc độ, là cơ sở để nghiên cứu, xây dựng kế hoạch và chiến lược phát triển kinh tế xã hội trung và dài hạn của quốc gia. (…)

Thực trạng nguồn thông tin và phạm vi biên soạn chỉ tiêu tổng sản phẩm trong nước trước khi đánh giá lại ở Việt Nam

Việt Nam chính thức áp dụng hệ thống tài khoản quốc gia từ năm 1993 theo Quyết định số 183/TTg ngày 25/12/1992 của Thủ tướng Chính phủ. Trên cơ sở lý luận của Hệ thống tài khoản quốc gia 1993 của Liên hợp quốc (SNA 1993), chỉ tiêu GDP được biên soạn theo giá hiện hành và giá so sánh. Ban đầu, GDP được tính theo phương pháp sản xuất với chỉ tiêu giá trị sản xuất (GO), giá trị tăng thêm (VA) theo giá người sản xuất; sử dụng Hệ thống phân ngành kinh tế quốc dân 1993 theo Nghị định số 75/CP ngày 27/10/1993 của Chính phủ; năm 1994 được chọn là năm gốc so sánh; Hệ số chi phí trung gian (hệ số IC) trong bảng IO và của các vùng được sử dụng làm công cụ tính toán. Từ năm 2012 tới nay, GDP được tính theo phương pháp sản xuất, phương pháp sử dụng với GO, VA theo giá cơ bản. Sử dụng Hệ thống phân ngành kinh tế Việt Nam 2007 theo Quyết định số 337/QĐ-BKH ngày 10/4/2007 của Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư; áp dụng năm 2010 làm năm gốc; sử dụng hệ số IC của các vùng và cả nước; sử dụng hệ thống chỉ số giá làm công cụ chuyển giá hiện hành về giá so sánh năm gốc và bảng giá cố định năm 2010 áp dụng riêng cho ngành nông, lâm nghiệp và thủy sản. Sự chuyển đổi GO từ giá sản xuất sang giá cơ bản không làm thay đổi quy mô và tốc độ tăng GDP, nhưng làm thay đổi quy mô và tốc độ tăng VA của các ngành kinh tế khi bóc tách “thuế trừ trợ cấp sản phẩm” trong VA theo giá sản xuất để tính giá trị tăng thêm theo giá cơ bản. (…)

Tóm lại, đánh giá lại quy mô GDP trên cơ sở phù hợp với lý luận và các khuyến nghị của hệ thống tài khoản quốc gia nhằm khắc phục những bất cập phát sinh trong quá trình biên soạn trước đây, tiếp tục hoàn thiện phương pháp chuyên môn nghiệp vụ phù hợp với tiêu chuẩn, thông lệ quốc tế và thực tiễn hoạt động kinh tế ở Việt Nam. Từ đó, nâng cao chất lượng số liệu thống kê, giúp công tác quản lý, điều hành, xây dựng kế hoạch, chiến lược phát triển đất nước phù hợp và hiệu quả. Ý nghĩa quan trọng và tác động tích cực nêu trên một lần nữa khẳng định sự cần thiết phải thực hiện đánh giá lại quy mô GDP./.

 

NÂNG CAO HIỆU QUẢ QUẢN LÝ KHAI THÁC, SỬ DỤNG VÀ PHÁT HUY CÁC NGUỒN LỰC CỦA NỀN KINH TẾ

LTS. Thời gian qua, việc quản lý, khai thác, sử dụng và phát huy các nguồn lực của nền kinh tế bao gồm: Nhân lực, vật lực và tài lực đã có đóng góp quan trọng vào sự nghiệp đổi mới, phát triển và hội nhập của đất nước. Tuy nhiên, việc quản lý, khai thác, sử dụng, phát huy các nguồn lực hiện còn hạn chế, bất cập; việc phân bổ và sử dụng các nguồn lực chưa hợp lý, hiệu quả chưa cao, nhiều trường hợp chưa theo cơ chế thị trường, gây lãng phí và làm cạn kiệt nguồn lực của đất nước. Để khắc phục tình trạng này, ngày 15/01/2019, Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết số 39-NQ/TW về nâng cao hiệu quả quản lý, khai thác, sử dụng và phát huy các nguồn lực của nền kinh tế.

Năm 2018, công tác phân tích và dự báo của Ngành Thống kê tiếp tục được quan tâm và đẩy mạnh, nhất là các chuyên đề phân tích chuyên sâu. Trong năm này, Tổng cục Thống kê đã hoàn thành một số báo cáo như: Báo cáo đánh giá thí điểm quá trình cơ cấu lại nền kinh tế, đổi mới mô hình tăng trưởng giai đoạn 2016-2018; Báo cáo đánh giá thực trạng Năng suất lao động của Việt Nam theo chỉ đạo của Phó Thủ tướng Vũ Đức Đam và Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư, phục vụ Diễn đàn phát triển Việt Nam năm 2018; Biên soạn báo cáo Thực trạng kinh tế - xã hội Việt Nam so với các nước trong khu vực; Báo cáo Tăng trưởng các vùng kinh tế trọng điểm và tác động tới tăng trưởng chung của nền kinh tế giai đoạn 2011-2016; Báo cáo Động thái và thực trạng kinh tế - xã hội Việt Nam 3 năm 2016-2018... Đặc biệt, Tổng cục Thống kê đã hoàn thành Báo cáo kết quả kiểm kê, đánh giá thực chất tình hình các nguồn lực của nền kinh tế theo Kết luận của Bộ Chính trị và Dự thảo Nghị quyết của Bộ Chính trị về nâng cao hiệu quả quản lý, khai thác, sử dụng và phát huy các nguồn lực của nền kinh tế. Đây là căn cứ để ngày 15/01/2019, Bộ Chính trị đã ra quyết định ban hành Nghị quyết số 39-NQ/ TW về nâng cao hiệu quả quản lý, khai thác, sử dụng và phát huy các nguồn lực của nền kinh tế.

Phóng viên: Ngày 15/1/2019, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng đã ký ban hành Nghị quyết số 39- NQ/TW của Bộ Chính trị về nâng cao hiệu quả quản lý, khai thác, sử dụng và phát huy các nguồn lực của nền kinh tế. Tổng cục Thống kê là cơ quan chắp bút Nghị quyết, ông có thể cho biết những nét chính được đề cập tại Nghị quyết này?

TS. Nguyễn Bích Lâm - Tổng cục trưởng Tổng cục Thống kê (TCTK): Thực hiện Kết luận của Tổng bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng về việc “Ban Cán sự Đảng Chính phủ chỉ đạo kiểm kê, đánh giá thực chất tình hình các nguồn lực của nền kinh tế hiện nay để báo cáo Bộ Chính trị”, Thủ tướng Chính phủ đã thành lập Tổ công tác chỉ đạo thực hiện nhiệm vụ này do Phó Thủ tướng Chính phủ Vương Đình Huệ làm Tổ trưởng, trong đó Tổng cục Thống kê là cơ quan thường trực của Tổ công tác trực tiếp chắp bút biên soạn dự thảo Nghị quyết.

Nghị quyết số 39-NQ/TW của Bộ Chính trị đã nêu khái quát những kết quả chủ yếu, hạn chế, bất cập và nguyên nhân trong quản lý, khai thác, huy động, phân bổ và sử dụng các nguồn lực của nền kinh tế thời gian vừa qua. Nghị quyết khẳng định rõ quan điểm chỉ đạo của Đảng trong việc quản lý, khai thác, sử dụng và phát huy các nguồn lực của đất nước, trong đó đa dạng hóa các hình thức huy động và sử dụng nguồn lực, thúc đẩy xã hội hóa, thu hút mạnh mẽ các nguồn lực đầu tư ngoài nhà nước; áp dụng nguyên tắc thị trường trong quản lý, khai thác, sử dụng các nguồn lực phát triển; đẩy mạnh kinh tế hóa nguồn vật lực; tập trung khai thác tối đa tiềm năng khoa học và công nghệ cho phát triển kinh tế - xã hội; tránh xảy ra thất thoát, lãng phí, cạn kiệt nguồn lực của đất nước và hủy hoại môi trường; đồng thời chỉ đạo về công tác kiểm kê, đánh giá các nguồn lực của nền kinh tế. Nghị quyết đã đề ra mục tiêu tổng quát và các mục tiêu cụ thể đối với từng nguồn lực (nhân lực, vật lực, tài lực) gắn với các mốc thời gian đến năm 2025, năm 2035 và năm 2045 - thời điểm kỷ niệm 100 năm thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, nay là nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam; đồng thời chỉ ra các nhiệm vụ, giải pháp chung và nhiệm vụ, giải pháp cụ thể đối với từng nguồn lực nhằm thực hiện quan điểm và mục tiêu đề ra.

Phóng viên: Nhiều ý kiến cho rằng, thời gian qua, việc quản lý, khai thác, sử dụng, phát huy các nguồn lực còn hạn chế, bất cập; việc phân bổ và sử dụng các nguồn lực chưa hợp lý, hiệu quả chưa cao, gây lãng phí và làm cạn kiệt nguồn lực của đất nước. Thưa ông, mục tiêu của Nghị quyết số 39-NQ/TW đưa ra các nội dung gì nhằm khắc phục những hạn chế nêu trên?

TS. Nguyễn Bích Lâm - Tổng cục trưởng TCTK: Để nâng cao hiệu quả quản lý, khai thác, sử dụng và phát huy các nguồn lực của nền kinh tế, Nghị quyết số 39-NQ/TW ngày 15/1/2019 của Bộ Chính trị đã đề ra các mục tiêu cụ thể cho từng nguồn lực gắn với các mốc thời gian được xác định. Trong đó:

- Nguồn nhân lực đặt ra mục tiêu: Tỷ trọng lao động làm việc trong khu vực nông, lâm nghiệp và thuỷ sản đến năm 2025 dưới 33% tổng số lao động của cả nước, đến năm 2035 dưới 25% và đến năm 2045 dưới 15%. Đến năm 2025, chỉ số phát triển con người (HDI) đạt mức cao trên thế giới. Đến năm 2045, năng suất lao động và năng lực cạnh tranh của Việt Nam đạt mức trung bình các nước ASEAN-4...

- Về nguồn vật lực: Mục tiêu đến năm 2025 sẽ hoàn thiện đồng bộ hệ thống luật pháp, cơ chế, chính sách, công cụ thúc đẩy quản lý, sử dụng tiết kiệm và hiệu quả tài nguyên thiên nhiên; đến năm 2035 bảo đảm khoảng 99% diện tích đất tự nhiên được đưa vào khai thác, sử dụng; phục hồi 25% diện tích hệ sinh thái tự nhiên bị suy thoái và đến năm 2045 có thể chủ động ngăn ngừa, hạn chế tình trạng suy thoái tài nguyên, ô nhiễm môi trường, ứng phó với biến đổi khí hậu, nước biển dâng; bảo tồn và sử dụng bền vững tài nguyên thiên nhiên. Đối với hệ thống cơ sở vật chất và hạ tầng kinh tế - xã hội, Nghị quyết đặt mục tiêu đến năm 2025 phải hoàn thành dứt điểm các công trình có tính chất cấp bách, trọng tâm, trọng điểm, tạo động lực phát triển kinh tế - xã hội, nâng cấp hạ tầng kết nối giữa các vùng, miền trong cả nước và kết cấu hạ tầng đô thị để đến năm 2045 đất nước ta có hệ thống hạ tầng đồng bộ, hiện đại, kết nối thông suốt trong nước với quốc tế, ngang bằng với các nước phát triển...

- Đối với nguồn tài lực, Nghị quyết đề ra các mục tiêu nhằm giữ vững an ninh quốc gia, bảo đảm cân đối ngân sách tích cực như: Tỷ lệ bội chi ngân sách nhà nước đến năm 2020 xuống dưới 4% GDP, đến năm 2030 xuống khoảng 3% GDP; mức dự trữ quốc gia đến năm 2025 đạt 0,8%-1,0% GDP, đến năm 2035 đạt 1,5% GDP và đến năm 2045 đạt 2% GDP; Bên cạnh đó, Nghị quyết đặt ra mục tiêu đến năm 2030 nợ công không quá 60% GDP, nợ Chính phủ không quá 50% GDP, nợ nước ngoài của quốc gia không quá 45% GDP...

Phóng viên: Để đạt được các mục tiêu của Nghị quyết số 39-NQ/TW đề ra; cụ thể, bảo đảm cân đối ngân sách tích cực, giảm dần tỉ lệ bội chi ngân sách nhà nước, đến năm 2020 xuống dưới 4% GDP, hướng tới cân bằng thu - chi ngân sách nhà nước. Đến năm 2030, nợ công không quá 60% GDP, nợ chính phủ không quá 50% GDP, nợ nước ngoài của quốc gia không quá 45% GDP. Vậy thưa ông, Nghị quyết số 39-NQ/TW đã đề cập đến những giải pháp gì?

TS. Nguyễn Bích Lâm - Tổng cục trưởng TCTK: Để đạt được các mục tiêu trên, Nghị quyết đề cập tới một loạt giải pháp, trong đó các giải pháp chủ yếu gồm: Thực hiện nghiêm Luật Ngân sách nhà nước, tăng cường kỷ luật tài chính - ngân sách nhà nước ở tất cả các ngành, các cấp. Nuôi dưỡng nguồn thu ngân sách nhà nước, bảo đảm thu đúng, thu đủ, thu kịp thời, chống thất thu, chuyển giá và nợ đọng thuế. Giám sát chặt chẽ các khoản chi từ ngân sách nhà nước, bảo đảm triệt để tiết kiệm, chống lãng phí, tăng nguồn thu sự nghiệp. Thực hiện chính sách tài khoá chặt chẽ, phối hợp đồng bộ với chính sách tiền tệ. Giảm các quỹ tài chính nhà nước ngoài ngân sách nhà nước để tập trung nguồn lực cho phát triển. Đồng thời, kiểm soát và quản lý nợ công trong giới hạn cho phép, đẩy mạnh cơ cấu lại nợ công, kiểm soát chặt chẽ các nghĩa vụ nợ tiềm ẩn; hoàn thiện luật pháp, chính sách quản lý nợ công phù hợp với tình hình thực tiễn trong nước và thông lệ quốc tế. Nâng cao hiệu quả sử dụng nợ công, gắn trách nhiệm phân bổ, sử dụng vốn vay với trách nhiệm giải trình, cân đối nghĩa vụ trả nợ; tập trung phát triển thị trường vốn trong nước theo hướng đa dạng hoá công cụ nợ và nhà đầu tư, thu hút các nhà đầu tư nước ngoài.

Phóng viên: Thưa ông, trong Nghị quyết số 39-NQ/TW có đề cập đến nhiệm vụ của nguồn nhân lực, vật lực và tài lực. Là cơ quan cung cấp thông tin và tham mưu để Chính phủ xây dựng, hoạch định chính sách, Tổng cục Thống kê có thể cho biết những giải pháp chính để phát huy một cách hiệu quả 3 nguồn lực này trong thời gian tới?

TS. Nguyễn Bích Lâm – Tổng cục trưởng TCTK: Theo chúng tôi, để nâng cao hiệu quả của các nguồn lực nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững, chúng ta cần thực hiện đồng bộ các giải pháp sau: Tiếp tục hoàn thiện luật pháp, cơ chế, chính sách để khơi thông, giải phóng tối đa và nâng cao hiệu quả sử dụng các nguồn lực hiện có. Đồng thời, đẩy nhanh quá trình đổi mới mô hình tăng trưởng chuyển từ chủ yếu dựa vào khai thác tài nguyên, vốn đầu tư và lao động sang sử dụng tổng hợp, có hiệu quả các nguồn lực của nền kinh tế, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao. Tập trung thực hiện đồng bộ các giải pháp nâng cao năng suất lao động, chất lượng, hiệu quả, sức cạnh tranh và phát triển bền vững của nền kinh tế. Cơ cấu lại nền kinh tế, ngành, vùng và sản phẩm chủ yếu theo hướng hiện đại, phát huy lợi thế so sánh và tham gia sâu vào chuỗi giá trị toàn cầu. Tập trung các nguồn lực phát triển những sản phẩm có lợi thế so sánh, sức cạnh tranh, giá trị gia tăng cao và có thị trường tiêu thụ. Cần chủ động nắm bắt cơ hội, tận dụng tối đa thành tựu của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư. Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin, chia sẻ thông tin về các nguồn lực trong nền kinh tế để sử dụng tối ưu và hiệu quả; phân phối, chia sẻ và tái sử dụng có hiệu quả các nguồn lực dư thừa, làm gia tăng giá trị các nguồn lực của nền kinh tế.

Bên cạnh đó, các bộ, ngành, địa phương cần khẩn trương cụ thể hóa các mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp trong Nghị quyết; xây dựng và triển khai các Đề án nhằm quản lý, khai thác, phân bổ và sử dụng hiệu quả các nguồn lực của đất nước.

Phóng viên: Trân trọng cảm ơn ông!

Thúy Hiền (thực hiện)

 

NĂM 2019: NHIỀU KỲ VỌNG CHO CÁC MẶT HÀNG XUẤT KHẨU CHỦ LỰC

 

ThS. Hà Vũ Phương Cầm

 

Tiếp đà tăng trưởng của năm 2017, hoạt động xuất nhập khẩu hàng hóa của Việt Nam tiếp tục ghi dấu mốc mới trong năm 2018, với tổng mức lưu chuyển hàng hóa xuất nhập khẩu ước đạt 482,2 tỷ USD, tăng 13,5% so năm 2017. Trong đó, riêng kim ngạch hàng hóa xuất khẩu ước tính đạt 244,72 tỷ USD, tăng 13,8%. Năm 2018 có tới 29 mặt hàng đạt kim ngạch xuất khẩu trên 1 tỷ USD, chiếm 91,7% tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước và 5 mặt hàng đạt trên 10 tỷ USD, chiếm 58,3%. (…)

Bước sang năm 2019, kinh tế thế giới được dự báo tiếp tục xu hướng tăng trưởng tích cực với đà tăng trưởng khả quan từ các nền kinh tế lớn và các nước phát triển, hoạt động thương mại và đầu tư toàn cầu phục hồi; sự hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam chuyển sang giai đoạn mới, gắn kết chặt chẽ với kinh tế khu vực và toàn cầu và bắt đầu thực thi các cam kết Hiệp định thương mại tự do (FTA) với mức độ cắt giảm sâu rộng; ở trong nước, kinh tế vĩ mô tiếp tục duy trì ổn định, môi trường đầu tư kinh doanh được cải thiện mạnh mẽ với những tiến bộ trong cải cách hành chính, đơn giản hóa thủ tục đầu tư, những đổi mới hỗ trợ doanh nghiệp... Tất cả các yếu tố trên là điều kiện thuận lợi để hoạt động xuất khẩu, nhất là những mặt hàng xuất khẩu chủ lực nước ta chinh phục những cột mốc mới. Kim ngạch xuất khẩu năm 2019 dự kiến đạt khoảng 265 tỷ USD. (…)

Mặc dù hoạt động xuất khẩu của Việt Nam được cho là có nhiều dư địa tăng trưởng trong năm 2019, song để đạt được những con số dự báo trên, các doanh nghiệp trong nước cần tận dụng tốt mọi cơ hội để nhận diện rõ những thách thức như: Nhiều nước sẽ gia tăng bảo hộ sản xuất trong nước một cách khắt khe; tình hình thương mại toàn cầu sẽ bị ảnh hưởng do Hoa Kỳ tiếp tục thực hiện các giải pháp kinh tế để giảm nhập siêu, dần cân bằng cán cân thương mại; những tác động tiêu cực từ chiến tranh thương mại Mỹ - Trung... Làm được điều đó, các doanh nghiệp xuất khẩu trong nước mới thực sự bứt phá để hội nhập vào chuỗi cung ứng toàn cầu./.

 

MỘT SỐ NỘI DUNG VỀ XÂY DỰNG, LỰA CHỌN CÁC CHỈ TIÊU

PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG LIÊN QUAN ĐẾN TRẺ EM TẠI VIỆT NAM

 

Nguyễn Đình Khuyến

 

Công ước Quyền trẻ em là cơ sở pháp lý quốc tế quan trọng quy định việc chỉ đạo thực thi quyền trẻ em cần tuân thủ các nguyên tắc: Không phân biệt đối xử; Vì lợi ích tốt nhất của trẻ em; Quyền sinh tồn và phát triển; Tôn trọng ý kiến của trẻ em và sự tham gia của trẻ em trong các quyết định liên quan đến trẻ em. Những nguyên tắc này được thực hiện trên cơ sở bốn nhóm quyền cơ bản gồm: Quyền tự do và quyền dân sự; Quyền được chăm sóc y tế và hưởng phúc lợi xã hội cơ bản; Quyền được giáo dục và vui chơi giải trí; Quyền được bảo vệ và hưởng các biện pháp bảo vệ đặc biệt.

Việt Nam là một trong những quốc gia đầu tiên tham gia và thực hiện Công ước Quyền Trẻ em, có nghĩa vụ thực hiện, giám sát, báo cáo và đánh giá việc thực hiện các quyền trẻ em. Đặc biệt, trong bối cảnh cộng đồng quốc tế đang thực hiện Chương trình Nghị sự 2030 vì sự phát triển bền vững, gồm 17 mục tiêu chung với 169 mục tiêu cụ thể và “trẻ em” được xác định là một trong các nhóm yếu thế cần được theo dõi, đánh giá theo nguyên tắc “không trẻ em nào bị bỏ lại phía sau”. Quyết định số 622/QĐ-TTg ngày 10/5/2017 của Thủ tướng Chính phủ ban hành Kế hoạch hành động quốc gia thực hiện Chương trình nghị sự 2030 vì sự phát triển bền vững, trong đó, quy định 33 mục tiêu cụ thể liên quan đến trẻ em. (…)

Để theo dõi, đánh giá việc thực hiện các mục tiêu phát triển bền vững của Việt Nam nói chung và các chỉ tiêu liên quan đến trẻ em nói riêng, tác giả có một số khuyến nghị như sau:

Thứ nhất, đối với các chỉ tiêu thuộc chỉ tiêu Bộ, ngành và do Bộ, ngành chịu trách nhiệm báo cáo, các Bộ cần quy định trong hệ thống chỉ tiêu của Bộ, ngành để lập kế hoạch, bố trí nguồn lực thực hiện và báo cáo.

Thứ hai, Tổng cục Thống kê cùng các Bộ, ngành được giao nhiệm vụ thu thập, tổng hợp các chỉ tiêu trong bộ chỉ tiêu này cần có kế hoạch thực hiện ngay các chỉ tiêu có lộ trình A; đồng thời, xây dựng dựng kế hoạch phù hợp để tiếp tục thực hiện các chỉ tiêu có lộ trình B.

Thứ ba, các Bộ, ngành nâng cao năng lực và hoàn thiện tổ chức thống kê Bộ, ngành. Đồng thời, phối hợp chặt chẽ với Tổng cục Thống kê trong quá trình xây dựng, chuẩn hóa các chỉ tiêu thống kê về phát triển bền vững liên quan đến trẻ em.

Thứ tư, Bộ, ngành tiến hành lồng ghép các chỉ tiêu phát triển bền vững liên quan đến trẻ em được phân công thực hiện vào hệ thống chỉ tiêu thống kê của Bộ, ngành để thuận tiện trong quá trình triển khai thu thập. Đẩy mạnh việc thu thập dữ liệu thống kê về phát triển bền vững được phân công, đặc biệt là việc sử dụng dữ liệu hành chính. Định kỳ tổng hợp, báo cáo tình hình thực hiện các chỉ tiêu phát triển bền vững thuộc lĩnh vực phụ trách./.

 
CÁC THÔNG TIN KHÁC
  Tạp chí Con số và Sự kiện kỳ 1 tháng 5/2019 (545)
  Tạp chí Con số và Sự kiện kỳ 2 tháng 4/2019 (544)
  Tạp chí Con số và Sự kiện kỳ 1 tháng 4/2019 (543)
  Tạp chí Con số và Sự kiện kỳ II tháng 3/2019 (542)
  Tạp chí Con số và Sự kiện kỳ I tháng 3/2019 (541)