English | FAQ | Sơ đồ website
TỔNG CỤC THỐNG KÊ
Số 54 Nguyễn Chí Thanh, Đống Đa, Hà Nội
Tạp chí Con số và Sự kiện 
Tạp chí Con số và Sự kiện kỳ 1 tháng 4/2019 (543)

CON SỐ VÀ SỰ KIỆN

Tạp chí của Tổng cục Thống kê

ISNN 0866-7322. Kỳ 1 tháng 4/2019 (543)

Ra hàng tháng. Năm thứ 58

 

HOẠT ĐỘNG TRONG NGÀNH

Hội nghị trực tuyến toàn quốc về Tổng điều tra Dân số và nhà ở năm 2019

Hội nghị Công bố Bộ chỉ tiêu Thống kê phát triển bền vững của Việt Nam

Giám sát tập huấn nghiệp vụ và Công nghệ thông tin Tổng điều tra Dân số và nhà ở năm 2019

Điều tra doanh nghiệp năm 2019: Một số nội dung chủ yếu

¨ ThS. NGUYỄN HUY MINH

Phú Yên – quyết tâm thực hiện 100% CAPI trong Tổng điều tra Dân số và nhà ở năm 2019

Thái Bình – Chủ động thực hiện công tác tuyên truyền Tổng điều tra Dân số và nhà ở năm 2019

¨ VŨ TUẤN HÙNG

ĐÁNH GIÁ LẠI QUY MÔ TỔNG SẢN PHẨM TRONG NƯỚC

Phạm vi và nguồn thông tin đánh giá lại quy mô tổng sản phẩm trong nước

KINH TẾ - XÃ HỘI

Tổng quan kinh tế - xã hội Việt Nam quý I năm 2019

Tổng quan thị trường và giá cả quý I năm 2019

Nỗ lực cải thiện môi trường kinh doanh tại Việt Nam

¨ NGUYỄN THỊ THANH HIỀN

Ngành da giày Việt Nam năm 2019 – Những cơ hội và thách thức do FTAs mang lại

¨ ThS. NGUYỄN THỊ MAI

Nhiệt điện than – Thực trạng và Giải pháp

¨ THU HIỀN

Nâng cao hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp lữ hành

¨ HIỀN MINH

Năm 2019 – Thị trường xuất khẩu lao động tiếp tục khởi sắc

¨ MINH THƯ

Tin địa phương

KẾT QUẢ TỔNG ĐIỀU TRA KINH TẾ 2017

Hợp tác xã Việt Nam giai đoạn 2012 -2016: Thực trạng và giải pháp

¨ NHÀN THƯ

CẢ NƯỚC CHUNG TAY XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI

Mỗi làng một sản phẩm – Hướng đi để xây dựng Nông thôn mới bền vững

¨ BÍCH NGỌC

Vĩnh Long: Xây dựng xã nông thôn mới nâng cao, hướng tới nông thôn mới kiểu mẫu

¨ TIẾN LONG

SÁCH HAY THỐNG KÊ

Kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp Hà Nội

QUỐC TẾ

Hàn Quốc: Thực hiện điều tra dân số và nhà ở dựa trên thông tin đăng ký

¨ NGỌC LINH

Singapore: Táo bạo với những dự án phát triển dưới lòng đất

¨ GIA LINH

 

Nội dung tóm tắt một số bài trong số kỳ 1 tháng 4/2019.

 

HỘI NGHỊ TRỰC TUYẾN TOÀN QUỐC VỀ TỔNG ĐIỀU TRA DÂN SỐ

VÀ NHÀ Ở NĂM 2019

Thực hiện Quyết định số 772/QĐ-TTg ngày 26/6/2018 của Thủ tướng Chính phủ về tổ chức Tổng điều tra Dân số và nhà ở năm 2019 (TĐT 2019) và Thông báo số 441/TB-VPCP ngày 30/11/2018 của Văn phòng Chính phủ về kết luận của Phó Thủ tướng Chính phủ Vương Đình Huệ, Trưởng Ban Chỉ đạo Tổng điều tra dân số và nhà ở Trung ương về triển khai thực hiện TĐT 2019, chiều ngày 13/3/2019, tại Hà Nội, Ban Chỉ đạo Tổng điều tra Dân số và nhà ở Trung ương (BCĐTW) đã tổ chức Hội nghị trực tuyến toàn quốc về TĐT 2019 để tiếp tục rà soát, hoàn thiện các công việc chuẩn bị, sẵn sàng cho TĐT từ 0 giờ ngày 01/4/2019. Ủy viên Bộ Chính trị, Phó Thủ tướng Chính phủ Vương Đình Huệ, Trưởng ban BCĐTW chủ trì Hội nghị. Đồng chủ trì Hội nghị có Thứ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư Nguyễn Đức Trung; Tổng cục trưởng Tổng cục Thống kê Nguyễn Bích Lâm, Phó Trưởng ban BCĐTW.

Tham dự Hội nghị có đại diện lãnh đạo các Bộ, ngành là thành viên BCĐTW; Các thành viên của văn phòng BCĐTW; đại diện 3 Bộ thực hiện TĐT theo đặc thù riêng: Bộ Công an, Bộ Quốc phòng và Bộ Ngoại giao; đại diện Quỹ Dân số Liên Hợp quốc tại Việt Nam cùng đông đảo cơ quan thông tấn báo chí.

Tham dự Hội nghị tại 775 điểm cầu trực tuyến tại 63 tỉnh, thành trong cả nước có trên 36.000 đại biểu, gồm: Đại diện lãnh đạo UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương là Trưởng BCĐ cấp tỉnh, các thành viên BCĐ cấp tỉnh, đại diện Thành ủy, Tỉnh ủy, lãnh đạo Cục thống kê các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương; Đại diện lãnh đạo UBND cấp huyện là Trưởng BCĐ cấp huyện, các thành viên BCĐ cấp huyện, đại diện quận ủy, huyện ủy của các quận, huyện, thị xã; Các thành viên BCĐ của 4.164 xã, phường, thị trấn trong cả nước.

Chỉ đạo Hội nghị, Phó Thủ tướng Vương Đình Huệ nhấn mạnh TĐT 2019 là một trong những cuộc tổng điều tra thống kê lớn nhất của nước ta, có quy mô lớn với phạm vi điều tra là 712 quận, huyện, thị xã và 11.165 xã, phường, thị trấn tại 63 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và 3 Bộ có tính đặc thù quan trọng là Bộ Quốc phòng, Bộ Công an và Bộ Ngoại giao. Trong 2 năm qua, công tác chuẩn bị cho cuộc TĐT 2019 đã được thực hiện với việc ban hành nhiều văn bản chỉ đạo, cũng như đã thành lập BCĐ các cấp từ Trung ương tới tỉnh, huyện, xã và BCĐ tại 3 Bộ đặc thù. Với nội dung chính của Hội nghị là rà soát, hoàn thiện các công việc chuẩn bị, sẵn sàng cho ngày ra quân TĐT, Phó Thủ tướng Chính phủ đề nghị các cơ quan ở Trung ương và địa phương báo cáo và làm rõ tình hình chuẩn bị và triển khai TĐT, chủ yếu tập trung vào những vấn đề lớn: (1) Công tác tuyển chọn, tập huấn nghiệp vụ và sử dụng công nghệ thông tin (CNTT) cho các điều tra viên, tổ trưởng và giám sát viên các cấp; (2) Rà soát lại công tác chuẩn bị hạ tầng CNTT cho cuộc TĐT về máy chủ, đường truyền mạng... do việc ứng dụng CNTT có tính rủi ro hệ thống cao; (3) Công tác tuyên truyền vận động nhân dân hưởng ứng tham gia cuộc TĐT tại các địa phương, công tác chuẩn bị TĐT tại các địa bàn; (4) Công tác đảm bảo an toàn cho TĐT, đặc biệt ở vùng sâu, vùng xa, biên giới và những nơi có các rủi ro bất ổn về trật tự an toàn, xã hội; (5) Công tác chỉ đạo, phân công nhiệm vụ và phối hợp giữa các ban, ngành để thu thập thông tin tại các địa bàn; (6) Huy động cả hệ thống chính trị từ Trung ương đến địa phương trong công tác chuẩn bị thu thập thông tin điều tra thống kê, cũng như tổng hợp và công bố kết quả điều tra thống kê, trong đó cần có sự chỉ đạo sát sao của cấp ủy và chính quyền địa phương các cấp cũng như của BCĐTW.

Sau chỉ đạo của Phó Thủ tướng, các đại biểu được xem video clip về công tác chuẩn bị TĐT 2019 và được nghe Tổng cục trưởng Tổng cục Thống kê Nguyễn Bích Lâm báo cáo về tình hình thực hiện TĐT. Theo đó, công tác chuẩn bị cho TĐT được thực hiện chu đáo với nhiều công việc như: Công tác chuẩn bị nghiệp vụ và hạ tầng công nghệ thông tin (Tổ chức các hội nghị tập huấn cấp tỉnh, huyện; Hoàn thiện phiếu hỏi TĐT; Hoàn thiện biên soạn các tài liệu hướng dẫn; Thiết lập mạng lưới thực hiện TĐT; Xây dựng các chương trình phần mềm ứng dụng và nâng cấp hạ tầng CNTT); Công tác tuyên truyền về TĐT được đẩy mạnh với các hình thức tuyên truyền đa dạng trên các phương tiện thông tin đại chúng, trang thông tin điện tử cấp tỉnh, xuất bản chuyên san, sản xuất pano, áp phích... Các Bộ Quốc phòng, Công an và Ngoại giao cũng đã hoàn thành công tác chuẩn bị cho TĐT theo kế hoạch riêng. Tại Hội nghị, các đại biểu đồng thời được nghe báo cáo tình hình chuẩn bị TĐT của các Bộ, ngành và một số địa phương trong cả nước.

Kết luận Hội nghị, Phó Thủ tướng Vương Đình Huệ đánh giá cao sự chuẩn bị tích cực, chu đáo, khoa học và bài bản với khối lượng công việc lớn của các cấp cho TĐT 2019. Trong thời gian tới, Phó Thủ tướng yêu cầu:

Thứ nhất, các Bộ, ngành, các cấp ủy đảng, chính quyền, BCĐ các cấp tiếp tục quán triệt mục đích, yêu cầu, các vấn đề liên quan đến bối cảnh, quy mô, đặc điểm của cuộc TĐT 2019. Từ đó xác định trách nhiệm của BCĐ Trung ương, các Bộ, ngành, chính quyền địa phương, BCĐ các cấp huyện, xã.

Thứ hai, đẩy mạnh công tác tuyên truyền TĐT, thực hiện các hình thức tuyên truyền phong phú, đa dạng, sâu rộng trong xã hội nhằm đạt hiệu quả cao nhất, với sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị từ Trung ương đến địa phương, các tổ chức đoàn thể, huy động toàn thể nhân dân tham gia tích cực trong việc cung cấp thông tin đầy đủ, chính xác. BCĐ cấp địa phương cần chú trọng tổ chức tuyên truyền đến các địa bàn có khó khăn về địa lý, khó khăn do các yếu tố có tác động đến vấn đề ổn định, an ninh chính trị...

Thứ ba, tiếp tục chuẩn bị lực lượng điều tra (điều tra viên, giám sát viên, tổ trưởng), đặc biệt là cần chuẩn bị kỹ việc ứng dụng CNTT trong TĐT.

Thứ tư, về công tác chuẩn bị tại địa bàn, BCĐ cấp xã cần đặc biệt lưu ý các địa bàn điều tra có sự thay đổi địa giới hành chính và bố trí đầy đủ lực lượng phục vụ cho việc điều tra sử dụng máy tính bảng và điện thoại thông minh. BCĐ các cấp tại địa phương rà soát những khó khăn, vấn đề có thể phát sinh để xây dựng các phương án dự phòng rủi ro, đồng thời phối hợp với lực lượng công an, bộ đội xây dựng kế hoạch, đề án bảo vệ an toàn cuộc TĐT. Bộ TTTT cần bảo đảm thông suốt hệ thống thông tin và đường truyền trong quá trình thu thập thông tin TĐT ở tất cả các khâu.

Thứ năm, về công tác tổ chức thu thập thông tin, các Bộ, ngành, địa phương đồng loạt tổ chức lễ ra quân vào sáng ngày 01/4/2019 theo hướng dẫn của BCĐTW. BCĐ cấp xã tiến hành thu thập thông tin điều tra tại hộ dân cư từ ngày 01-25/4/2019. BCĐ của Bộ Quốc phòng, Công an và Ngoại giao thực hiện TĐT theo kế hoạch riêng của Bộ đã được phê duyệt.

Thứ sáu, về công tác kiểm tra, giám sát, cần tăng cường công tác giám sát kiểm tra quy trình thực hiện điều tra, đảm bảo chất lượng thông tin TĐT. Bên cạnh đó, giám sát kiểm tra việc thực hiện quy chế tài chính, đảm bảo tuân thủ các quy định hiện hành, nhằm chi tiêu tài chính hiệu quả và tiết kiệm.

Thứ bảy, về chế độ thông tin và báo cáo, để đảm bảo kế hoạch công bố các kết quả TĐT, chậm nhất vào ngày 26/4/2019, BCĐ các tỉnh, thành phố báo cáo nhanh kết quả tổ chức TĐT tại địa phương, để BCĐTW tổng hợp, báo cáo Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Lãnh đạo Đảng và Nhà nước. BCĐ các cấp nếu có vấn đề đột xuất phát sinh cần tháo gỡ phải có báo cáo nhanh, để kịp thời xử lý, nhất là những vấn đề liên quan đến CNTT. Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Tổng cục Thống kê bố trí cán bộ trực 24/24h trong thời gian diễn ra cuộc TĐT.

Trên cơ sở kết luận của Phó Thủ tướng và kết quả Hội nghị, Phó Thủ tướng Vương Đình Huệ yêu cầu Văn phòng Chính phủ phối hợp BCĐTW ban hành Báo cáo kết luận, gửi đến các Bộ, ngành, cơ quan và BCĐ các cấp.

Với sự quyết tâm của các cấp, các ngành và địa phương, Phó Thủ tướng tin tưởng cuộc TĐT 2019 sẽ thực hiện thắng lợi, đạt được các mục đích, yêu cầu đặt ra.

Đáp từ sự chỉ đạo của Phó Thủ tướng Vương Đình Huệ, Thứ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư Nguyễn Đức Trung cảm ơn sự chỉ đạo sát sao của Phó Thủ tướng trong thực hiện TĐT 2019 và tiếp thu đầy đủ, nghiêm túc những chỉ đạo của Phó Thủ tướng, Bộ Kế hoạch và Đầu tư sẽ phối hợp với các Bộ, ngành, địa phương tổ chức thành công cuộc TĐT 2019./.

 

PHẠM VI VÀ NGUỒN THÔNG TIN ĐÁNH GIÁ LẠI QUY MÔ TỔNG SẢN PHẢM TRONG NƯỚC

 

Phạm vi đánh giá lại quy mô tổng sản phẩm trong nước

Theo quy định hạch toán và điều kiện thực tiễn của mỗi quốc gia, khu vực kinh tế chưa được quan sát (gồm 5 thành tố); mỗi thành tố cấu thành của nó được xem xét, đo lường và bổ sung vào quy mô GDP với các mức rất khác nhau. Hiện, Tổng cục Thống kê triển khai thực hiện đánh giá lại quy mô GDP chính là thực hiện nội dung của thành tố thứ năm của khu vực kinh tế chưa được quan sát, đó là “Hoạt động kinh tế bị bỏ sót trong các chương trình thu thập dữ liệu thống kê”. Thực hiện đánh giá lại quy mô GDP chỉ xem xét, rà soát các hoạt động kinh tế thuộc phạm vi sản xuất theo quy định của Việt Nam, chưa đề cập tới các hoạt động kinh tế ngầm và kinh tế bất hợp pháp thuộc khu vực kinh tế chưa được quan sát.

Phạm vi đánh giá lại quy mô tổng sản phẩm trong nước bao gồm:

(i) Xem xét, rà soát các ngành trong nền kinh tế giai đoạn 2010-2017

Thực hiện xem xét, rà soát từ nguồn thông tin và kết quả tính toán chi tiết đến 88 ngành kinh tế cấp 2; 21 ngành kinh tế cấp 1 và 3 khu vực kinh tế cho giai đoạn 2010-2017 của toàn bộ nền kinh tế. (…)

 (ii) Bổ sung, cập nhật một số nội dung theo phương pháp luận của Hệ thống tài khoản quốc gia 2008 và hệ thống phân loại mới

SNA 2008 đã đưa ra một số thay đổi liên quan đến phạm vi tài sản bao gồm: Mở rộng phạm vi tài sản là các sản phẩm nghiên cứu và phát triển; đánh giá lại phân loại tài sản. Khung lý thuyết mới đã phân biệt cụ thể hơn giữa tài sản do sản xuất và tài sản không do sản xuất tạo ra; không căn cứ vào hình thái để phân chia tài sản thành tài sản vô hình và tài sản hữu hình như trước đây. (…)

Cập nhật Hệ thống phân ngành kinh tế 2018 theo Quyết định số 27/2018/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 06/7/2018 và Hệ thống ngành sản phẩm Việt Nam theo Quyết định số 43/2018/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 01/11/2018.

(iii) Thực hiện đánh giá theo giá hiện hành và giá so sánh năm 2010

Đánh giá lại quy mô GDP theo giá hiện hành và giá so sánh để phản ánh quy mô, cơ cấu của GDP theo ngành kinh tế. GDP giá hiện hành kết hợp với các chỉ tiêu vĩ mô khác để nghiên cứu, xem xét các cân đối lớn trong nền kinh tế để so sánh kết quả hoạt động trong nền kinh tế, của các địa phương, của các ngành kinh tế với nhau. (…)

 (iv) Tính toán lại các chỉ tiêu kinh tế tổng hợp có liên quan Bên cạnh việc rà soát, biên soạn lại GDP theo giá hiện hành và so sánh từ năm 2010 đến 2017 cần xem xét chỉ tiêu này trong mối quan hệ với các chỉ tiêu kinh tế vĩ mô khác có liên quan. (…)

Nguồn thông tin phục vụ đánh giá lại quy mô tổng sản phẩm trong nước

Nguồn thông tin phục vụ cho rà soát, đánh giá lại quy mô nền kinh tế chủ yếu dựa trên kết quả các cuộc tổng điều tra và điều tra thường xuyên được bổ sung, hoàn thiện gần nhất; khai thác hồ sơ hành chính; báo cáo thống kê và các nguồn thông tin khác.

(i)             Tổng điều tra và điều tra toàn bộ

Đây là cơ sở đầy đủ nhất về nguồn thông tin cho hầu hết các ngành trong nền kinh tế. Tổng điều tra cơ sở kinh tế, hành chính sự nghiệp năm 2012 và Tổng điều tra kinh tế năm 2017 là căn cứ để các ngành công nghiệp, xây dựng, dịch vụ đánh giá lại số liệu VA của năm 2011 và 2016. Khối doanh nghiệp, cơ quan quản lý nhà nước, đơn vị sự nghiệp và khối cá thể cùng được rà soát và tính toán lại số liệu trên cơ sở thông tin thu thập trong 2 kỳ tổng điều tra này. (…)

(ii)            Điều tra hàng năm

Tổng điều tra cung cấp danh sách tổng thể và thông tin chi tiết, đầy đủ cho năm báo cáo. Từ đó làm cơ sở để rà soát và cập nhật dàn mẫu và suy rộng cho các năm giữa hai kỳ Tổng điều tra. (…)

(iii)           Báo cáo thống kê

Hệ thống chế độ báo cáo thống kê nhằm thu thập, tổng hợp các thông tin cần thiết cho quá trình sản xuất số liệu thống kê. Chế độ báo cáo thống kê được thiết lập từ Trung ương đến địa phương trong nội bộ ngành thống kê và trong các bộ, ban, ngành khác. (…)

(iv) Hồ sơ hành chính

Số liệu chính thức từ các bộ, ban, ngành là nguồn thông tin quan trọng, đáng tin cậy cho việc cập nhật, đánh giá lại những sai số trong số liệu điều tra và số liệu ước tính của cơ quan thống kê. (…)

(v) Nguồn thông tin khác Bên cạnh các nguồn thông tin chính thức nói trên, nguồn thông tin khác từ các phương tiện thông tin đại chúng được tham khảo bởi tính cập nhật và khả năng khai thác dễ dàng, nhanh chóng. Thông tin về doanh nghiệp, báo cáo tài chính của các công ty niêm yết được công khai trên mạng; trên sàn giao dịch chứng khoán; thông tin từ một số tổ chức điều tra nghiên cứu thị trường; thông tin chuyên ngành của các ngân hàng, bảo hiểm, các doanh nghiệp, và tập đoàn lớn... được lưu giữ trên mạng đã và đang được cơ quan thống kê khai thác, sử dụng./.

(Nguồn: Tổng cục Thống kê)

 

NỖ LỰC CẢI THIỆN MÔI TRƯỜNG KINH DOANH TẠI VIỆT NAM

 

Nguyễn Thị Thanh Hiền

 

Kể từ năm 2014, hàng năm Chính phủ đều ban hành các Nghị quyết 19 về những nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia. Sau 5 năm thực hiện, Việt Nam đã tiến 21 bậc trên bảng xếp hạng toàn cầu về môi trường kinh doanh, nhưng những cải thiện này vẫn chưa đạt mục tiêu đề ra. (…)

Môi trường kinh doanh, năng lực cạnh tranh được cải thiện nhanh, rõ nét

Những năm qua, thực hiện Nghị quyết số 19 hàng năm của Chính phủ về cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia; các bộ, ngành, địa phương đã nhận thức ngày càng rõ trách nhiệm và tham gia ngày càng chủ động, tích cực để cải thiện điểm số và thứ hạng các chỉ số, tiêu chí cụ thể thuộc trách nhiệm quản lý của mình. Hàng ngàn điều kiện kinh doanh bất hợp lý đã được bãi bỏ; công tác kiểm tra chuyên ngành hàng hoá xuất nhập khẩu đã được đổi mới cơ bản theo nguyên tắc đánh giá rủi ro, chuyển từ tiền kiểm sang hậu kiểm đối với nhiều loại hàng hoá; số lượng dịch vụ công trực tuyến tăng nhanh... (…)

Vẫn còn nhiều khó khăn, thách thức

Mặc dù đã có nhiều cải thiện đáng kể nhưng xếp hạng môi trường kinh doanh (MTKD), năng lực cạnh tranh (NLCT) của Việt Nam mới ở mức trung bình khá trên bình diện quốc tế (xếp thứ 69/190 về MTKD, 77/140 về NLCT). Trong khu vực ASEAN, Việt Nam vẫn chưa vào nhóm 4 nước dẫn đầu (đứng thứ 5 về MTKD, thứ 7 về NLCT). Bên cạnh một số chỉ số có mức cải thiện nhanh, vẫn còn nhiều chỉ số cải thiện chậm, đặc biệt có một số chỉ số bị tụt hạng so với khu vực và thế giới. (…)

Nỗ lực đổi mới, sáng tạo, quyết liệt hành động, hướng tới những thành tựu mới

Trong bối cảnh CMCN 4.0 và cạnh tranh quốc tế ngày càng tăng, các quốc gia, nền kinh tế đều nỗ lực cải thiện MTKD và chú trọng đổi mới, nâng cao năng lực công nghệ, sáng tạo nhằm thích ứng với nền sản xuất mới. Do đó, mục tiêu tăng thứ hạng trên thế giới, vào nhóm bốn quốc gia dẫn đầu trong khu vực ASEAN đòi hỏi chúng ta phải nỗ lực hơn trước rất nhiều. (…)

Theo Nghị quyết mới ban hành, Chính phủ đã đề ra những nhiệm vụ và giải pháp chủ yếu như: Tăng cường trách nhiệm của các Bộ được phân công làm đầu mối theo dõi việc cải thiện các bộ chỉ số và các Bộ được phân công chủ trì, chịu trách nhiệm đối với các nhóm chỉ số, chỉ số thành phần; Tiếp tục bãi bỏ, đơn giản hoá các quy định về điều kiện kinh doanh; thực thi đầy đủ, triệt để những cải cách về điều kiện kinh doanh đã thực hiện trong năm 2018; Tiếp tục thực hiện cải cách toàn diện công tác quản lý, kiểm tra chuyên ngành và kết nối Cổng thông tin một cửa Quốc gia; Đẩy mạnh thanh toán điện tử và cung cấp dịch vụ công trực tuyến cấp độ 4; Phát triển hệ sinh thái đổi mới sáng tạo, hỗ trợ, khuyến khích doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo (startup).../.

 

NÂNG CAO HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA DOANH NGHIỆP LỮ HÀNH

Hiền Minh

Với vai trò quan trọng là cầu nối góp phần thúc đẩy phát triển ngành du lịch, thời gian qua hoạt động của các doanh nghiệp lữ hành đang góp phần quảng bá thông tin, hình ảnh các điểm du lịch, tác động tới việc lựa chọn điểm đến của du khách, đồng thời, các doanh nghiệp này cũng phối hợp với các ngành dịch vụ khác (nhà hàng, khách sạn...) tạo thành “gói” sản phẩm du lịch hoàn chỉnh. (…)

Kết quả kinh doanh của các cơ sở lữ hành ở Việt Nam

Không thể phủ nhận vai trò quan trọng của kinh doanh lữ hành đối với những bước phát triển của ngành du lịch nước ta thời gian qua, nhất là về chỉ số tăng trưởng lượng khách quốc tế. Kết quả kinh doanh của các cơ sở lữ hành cho thấy, với sự bùng nổ của lượng du khách quốc tế đến Việt Nam, các doanh nghiệp lữ hành cũng đã có sự tăng trưởng nhất định, là cầu nối giữa du khách và mỗi địa phương, đóng góp không nhỏ vào con số 15,5 triệu lượt khách quôc tế đến với Việt Nam năm 2018, (tăng 19,9% so với năm 2017). Bên cạnh đó, nhu cầu du lịch trong và ngoài nước của du khách nội địa đã góp phần tăng doanh thu cho hoạt động du lịch lữ hành nước ta thời gian qua. Theo số liệu của Tổng cục Thống kê, năm 2018, doanh thu du lịch lữ hành ước tính đạt 41 nghìn tỷ đồng, chiếm 0,9% tổng mức và tăng 14,1% so với năm 2017. (…)

Từng bước nâng cao hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp lữ hành trong phát triển du lịch

Có thể thấy, với những nỗ lực và quyết tâm cao của ngành du lịch trong việc cải thiện chính sách phát triển du lịch nói chung và tăng cường quản lý có hiệu quả du lịch lữ hành nói riêng đã có những tác động tích cực tới cải thiện môi trường kinh doanh của các doanh nghiệp du lịch lữ hành, qua đó góp phần không nhỏ vào kết quả đầy ấn tượng về gia tăng doanh thu du lịch lữ hành kể từ đầu thập kỷ 2010. (…)

Với một thị phần lớn trong tổng doanh thu của thị trường du lịch, hoạt động của các doanh nghiệp lữ hành không chỉ ảnh hưởng đến truyền thông, góp phần nâng cao chất lượng du lịch mà còn liên quan đến các vấn đề bảo tồn văn hóa, bảo vệ tài nguyên môi trường... Chính vì vậy, nâng cao chất lượng hoạt động của các doanh nghiệp lữ hành, tiếp tục phát huy vai trò là chìa khóa then chốt đối với thị trường khách du lịch quốc tế là góp phần vào sự phát triển bền vững của du lịch nước ta trong xu thế hội nhập hiện nay./.

 

MỖI LÀNG MỘT SẢN PHẨM HƯỚNG ĐI ĐỂ XÂY DỰNG

NÔNG THÔN MỚI BỀN VỮNG

Bích Ngọc

Mô hình “Mỗi làng một sản phẩm” (One village one product – OVOP) được khởi xướng đầu tiên tại Nhật Bản từ thập niên 70 của thế kỷ trước, nhằm phát huy thế mạnh của mỗi làng và tiếp sức cho sản phẩm trong nước vươn ra toàn cầu. Thực hiện mô hình, mỗi làng, xã ở nước này đã lựa chọn và tập trung sản xuất một sản phẩm có sức cạnh tranh trên thị trường, để đẩy mạnh sản xuất kinh doanh địa phương. Nhờ đó, không ít đặc sản của các địa phương vốn có quy mô sản xuất manh mún, nhỏ lẻ đã trở thành thương hiệu lớn, không chỉ nổi tiếng tại Nhật Bản mà còn xuất khẩu sang nhiều nước trên thế giới. (…)

Tuy nhiên, theo đánh giá của Văn phòng điều phối Nông thôn mới Trung ương, quá trình triển khai Đề án “Mỗi làng một nghề” còn tồn tại một số hạn chế. Đó là, việc phát triển làng nghề thiếu sự quản lý tập trung, sự phát triển nóng của các làng nghề đã dẫn tới tình trạng ô nhiễm môi trường tăng lên. Bên cạnh đó, chương trình mới chủ yếu tập trung vào nhóm sản phẩm thủ công mỹ nghệ truyền thống tại các làng nghề, chưa trở thành phong trào có sức lan tỏa mạnh mẽ đến cộng đồng dân cư, đặc biệt là khu vực nông thôn. (…)

Sự quyết tâm của cả cộng đồng sẽ là chìa khóa để chương trình OCOP phát huy hiệu quả, tiếp sức cho Chương trình Mục tiêu Quốc gia xây dựng Nông thôn mới đạt được những kết quả như kế hoạch đặt ra./.

 

HÀN QUỐC: THỰC HIỆN ĐIỀU TRA DÂN SỐ VÀ NHÀ Ở DỰA TRÊN THÔNG TIN ĐĂNG KÝ

Ngọc Linh

Tại Hàn Quốc, Tổng điều tra dân số đầu tiên được diễn ra vào năm 1952 và Tổng điều tra nhà ở đầu tiên được thực hiện vào năm 1960. Năm 2016, là năm thứ 20 Hàn Quốc thực hiện điều tra dân số và là năm thứ 12 thực hiện điều tra nhà ở. Mốc thời gian thu thập thông tin điều tra của cuộc tổng điều tra năm 2016 được tính tại thời điểm lúc 0h ngày 01/11. Đối tượng của tổng điều tra 2016 là tất cả người dân Hàn Quốc và người nước ngoài tạm trú trên lãnh thổ nước Hàn Quốc, phạm vi điều tra là tại tất cả các vùng, miền của đất nước. (…)

Để có được số liệu thống kê tổng thể hơn, thời gian tiếp theo, trong các cuộc tổng điều tra dân số và nhà ở tại Hàn Quốc sẽ bổ sung các chỉ tiêu điều tra. Trong ngắn hạn, chỉ tiêu về dân số và hộ gia đình sẽ thu thập bổ sung thông tin nơi cư trú 1 hoặc 5 năm trước thời gian cư trú hiện tại, nơi sinh, năm và tháng kết hôn, số trẻ em được sinh ra. (…) Trong dài hạn, sẽ bổ sung thu thập các dữ liệu hành chính khác: Thông tin đăng ký ôtô, trường học, thông tin về người khuyết tật, cơ sở chăm sóc trẻ em, thuê bao truyền thông, sở hữu nhà ở... cũng như phát triển những số liệu thống kê mới./.

 

 
CÁC THÔNG TIN KHÁC
  Tạp chí Con số và Sự kiện kỳ 1 tháng 5/2019 (545)
  Tạp chí Con số và Sự kiện kỳ 2 tháng 4/2019 (544)
  Tạp chí Con số và Sự kiện kỳ II tháng 3/2019 (542)
  Tạp chí Con số và Sự kiện kỳ I tháng 3/2019 (541)
  Tạp chí Con số và Sự kiện kỳ II tháng 2/2019 (540)